Tà Áo Xanh

.
.

Chỉ còn hơn mười ngày nữa là giáng sinh, mà không khí Sài Gòn vẫn còn oi bức quá. Chị ra khỏi khách sạn, đi dạo dọc theo vỉa hè, rảo qua những cửa tiệm với các ô cửa kính sáng loáng, rực rỡ màu sắc bởi những cây thông Noel đã được trang trí. Hai mươi sáu năm rồi chị mới quay trở lại quê hương, Sài Gòn bây giờ khác xưa nhiều quá, những cao ốc vòi vọi nhìn mà chóng mặt. Ở bên Pháp mỗi lần nghe Lê Uyên hát “…Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng? Sài Gòn bây giờ ai khóc thương ai…Sài Gòn bước ai gõ xuống đêm sầu, Sài Gòn bóng nghiêng Sài Gòn đứng đợi, Sài Gòn bây giờ cúi mặt xa nhau…” là lòng chị rưng rưng muốn khóc, nhưng chị không muốn trở về, chị sợ phải nhớ lại những kỷ niệm mà chị đã chạy trốn, nhưng hôm nay cũng chính vì nó mà chị lại quay về…

Chị đi dần về phía cuối con đường Bà Huyện Thanh Quan, nơi ngày xưa có quán cà phê mang tên Nỗi Nhớ, nơi chị và Nguyên hẹn hò nhau vào mỗi cuối tuần, chẳng biết bây giờ nó có còn không. Chị vô cùng mừng rỡ khi nhìn thấy ngôi quán cũ hiện ra, cũng vẫn màu sơn xanh da trời quen thuộc như ngày xưa. Quán đã được đổi tên thành Trúc Lan, cách trang trí của quán đúng như tên gọi của nó, hai bên cửa có trồng mấy bụi trúc hoe vàng, còn những chậu lan đủ màu sắc thì được treo rải rác khắp trong sân. Chọn một chỗ ngồi dưới vòm trúc, chị gọi một ly cà phê sữa nóng, lắng nghe giọng hát trầm buồn của Lan Ngọc trong ca khúc Tình Nghệ Sĩ. Không gian cũ… âm nhạc cũ… đã đưa ký ức chị trở về những năm tháng xa xưa…

Mùa hè năm chị mười bảy tuổi, chị được ba mẹ cho về Đà Lạt chơi ở nhà cô. Đó là lần đầu tiên chị đến Đà Lạt, thành phố cao nguyên thật trầm mặc lặng lẽ, khác hẳn với Sài Gòn quê chị. Dù đang mùa hè chiều xuống trời vẫn lạnh, đặc biệt ở đâu chị cũng nhìn thấy hoa, có nhiều loài hoa rất lạ. Cái giàn hoa chị đứng ngắm buổi sáng hôm ấy, nơi lần đầu chị gặp Nguyên, có màu đỏ cam rất đặc biệt, khi cánh hoa chưa nở nhìn giống như hoa thiên lý, chị gọi nó là hoa Thiên Lý Mặt Trời. Lúc ấy Nguyên đã xuất hiện trước mặt chị và nói – Cho tôi vẽ cảnh cô bé với giàn hoa này nhé? Giọng Bắc của Nguyên nghe mới hay làm sao, nhưng tất nhiên chị từ chối rồi bỏ đi. Nguyên cứ lẽo đẽo theo sau chị một đoạn dài và năn nỉ mãi, hứa sẽ tặng chị bức vẽ khi nó hoàn thành, thế là cuối cùng chị cũng xiêu lòng. Nguyên chọn tư thế ngồi mẫu cho chị, loay hoay mãi đến trưa mới xong bản phác thảo, Nguyên hẹn gặp chị ngày mai với bức tranh hoàn chỉnh. Sáng hôm sau tới chỗ cũ, chị thấy Nguyên đã ở đó, chị chẳng hiểu gì về hội họa, nhưng chị thấy Nguyên vẽ thật đẹp, đôi mắt chị trong tranh, đầy ngạc nhiên thích thú, khi nhìn những bông hoa Thiên Lý Mặt Trời. Nguyên đặt tên bức họa là Tà Áo Xanh. Chị hỏi Nguyên tại sao lại chọn tên như thế, Nguyên bảo vì Nguyên thích màu xanh ngọc của chiếc áo chị mặc và cũng rất thích bài hát Tà Áo Xanh của Đoàn Chuẩn, bài hát này thì chị quá quen thuộc vì mẹ chị vẫn thường hay hát, hồi trước giải phóng mẹ chị vốn là một ca sĩ phòng trà, khi gặp ba chị rồi thì bà đã bỏ nghề.

Từ đó chị và Nguyên gặp nhau mỗi ngày, Nguyên chở chị bằng xe đạp, đi qua nhiều con dốc nhỏ tìm cảnh vẽ, thấy chỗ nào đẹp là lại bắt chị làm mẫu, dù chị mặc bất cứ màu áo gì Nguyên cũng biến nó thành màu xanh hết thảy. Có lần chị hỏi Nguyên – Không biết tác giả Tà Áo Xanh thích màu xanh nào nhỉ, da trời hay xanh ngọc? Nguyên bảo – Có lẽ cả hai, vì màu xanh ngọc là màu của cốm mùa thu, còn màu thanh thiên là màu của bầu trời mùa thu – Riêng Nguyên thì Nguyên thích cả hai màu xanh ấy.

Hết hè chị và Nguyên trở về Sài Gòn, Nguyên vào mỹ thuật năm thứ tư, còn chị học lớp mười hai. Cứ mỗi cuối tuần, Nguyên lại đưa chị đến quán cà phê Nỗi Nhớ nghe nhạc Đoàn Chuẩn. Nguyên bảo đã khám phá ra chỗ này vào năm thứ nhất đại học, cũng từ đó yêu thích luôn những màu xanh. Lần nào đến quán Nguyên cũng yêu cầu bài Tà Áo Xanh, còn chị lại thích nghe bài Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay. Chịu ảnh hưởng của Nguyên, lần hồi chị bắt đầu thấy thích những bài hát viết về tà áo xanh và mùa thu của Đoàn Chuẩn. Khi chị thi đỗ vào đại học, Nguyên bày tỏ tình cảm với chị và chị đã nhận lời.

Chị bước chân vào đại học được vài tháng, thì tai họa ập xuống gia đình chị. Xưởng dệt nhà chị đột nhiên nửa đêm bốc cháy, trước đó một tuần, ba chị vừa nhập về một lượng sợi rất lớn. Xe cứu hỏa phải mất hàng giờ mới dập tắt được ngọn lửa, nhưng tất cả máy móc, tơ sợi , vải vóc thành phẩm chẳng còn lại gì. Phút chốc trắng tay, ba chị bị sốc rất mạnh, ông đã ra đi mãi mãi trước khi kịp tới bệnh viện. Cái chết của ba chị đã để lại nỗi đau quá lớn cho gia đình, mẹ chị phải nhập viện vì bệnh tim tái phát. Cô chị từ Đà Lạt xuống lo hết mọi việc, chị thì khóc mãi, trong lòng cứ lo sợ rồi mẹ cũng đi theo ba.

Mọi chuyện không dừng lại đó, đến hạn không tiền trả nợ ngân hàng, nhà xưởng bị niêm phong, Tài sản nhà chị chỉ còn lại mỗi căn nhà, nơi gia đình chị gắn bó hơn hai mươi năm qua, dù đau lòng mẹ chị cũng phải rao bán. Mẹ mua một căn nhà nhỏ ở ngoại thành, dù mẹ can ngăn chị vẫn nghỉ học để đi làm, chị xin vào làm kế toán trong một cửa hàng bách hóa. Suốt thời gian ấy, Nguyên vẫn ở cạnh an ủi động viên chị, nhưng chị chẳng thể nào nguôi ngoai được.

Một người bạn cũ của ba chị ở Pháp về tìm tới nhà thăm, bác mở lời với mẹ chị, xin cho chị về làm dâu nhà bác. Con trai của bác lớn hơn chị tới mười tuổi, đang định cư tại Pháp. Anh đã để ý tới chị từ khi chị còn là cô bé, vừa đặt chân vào ngưỡng cửa trung học. Mẹ hỏi ý chị, sau nhiều đêm trằn trọc suy nghĩ, chị đã nhận lời. Hồi ấy tình yêu của chị với Nguyên, chưa đủ sâu nặng để chị sống chết vì nó, chị còn quá trẻ vẫn chưa tới tuổi hai mươi, với chị con đường phía trước sao mà mờ mịt quá, bệnh mẹ chị thỉnh thoảng lại tái phát, rồi còn việc học hành của hai em trai chị nữa. Mẹ Nguyên thì từ ngày nhà chị sa sút, thái độ của bác đối với chị cũng đã khác đi rất nhiều.

Chị với Nguyên vẫn gặp nhau mỗi tối, mẹ bảo sẽ nói cho Nguyên biết về quyết định của chị, chị lắc đầu nói mẹ hãy để chị tự đối mặt với việc này. Nhưng rồi chị cứ lần lữa mãi, thời gian còn lại của chị bên Nguyên quá ngắn, nói sớm ngày nào chị sẽ mất Nguyên sớm ngày đó, nghĩ tới việc ấy là trái tim chị lại đau nhói. Cho đến trước ngày cưới một tuần, chị mới dám nói hết với Nguyên mọi chuyện. Chị không bao giờ quên khuôn mặt của Nguyên lúc ấy, Nguyên nhìn chị tái xanh thảng thốt và đầy vẻ đau đớn, đôi mắt như đau đáu một câu hỏi tại sao?..tại sao?.. Nguyên không thốt ra một lời nào trách móc chị và cứ thế lặng lẽ quay lưng, chị nhìn theo bóng Nguyên lòng tan nát. Cũng kể từ hôm đó, chị không gặp lại Nguyên một lần nào nữa.

Trước hôm cưới một ngày, chị nhận được một cuốn băng cassette do Nguyên gởi đến. Đêm đó chị đóng cửa phòng mở băng ra nghe, toàn bộ cuốn băng chỉ có mỗi một bài hát Tà Áo Xanh được thu lặp đi lặp lại “…Rồi chiều nào xác pháo bên thềm tản mác bay. Em đi trong xác pháo, anh đi không ngước mắt thôi đành em…trách sao hoa xưa còn có lúc tàn, nhưng riêng anh dệt mấy cung đàn, nhạc đời còn ghi những nét thương yêu, hoa tàn tình tan theo không gian…” Lời hát cứ như lưỡi dao, xoáy sâu thêm vào trái tim vốn đã nhiều đau đớn của chị. Bài hát Tà Áo Xanh chẳng lẽ là mặc định cho tình yêu của chị và Nguyên. Chị đã khóc, khóc rất nhiều cho mối tình đầu của mình một lần sau cuối…

Tròn hai mươi tuổi chị theo chồng xa xứ, chồng chị là một người rất tốt, tính tình điềm đạm sâu sắc và tỉ mỉ. Anh gượng nhẹ chăm sóc chị từng li từng tí. Anh không nhìn thấy, hay vờ không nhìn thấy đôi mắt vốn lúc nào cũng đầy những nỗi u uẩn của chị. Hình như lúc nào anh cũng như đoán trước được ý chị, để nương theo đó mà làm cho chị hài lòng. Còn chị vốn là người có lý trí mạnh hơn tình cảm, khi đã quyết định điều gì chị sẽ không hối hận, chị đã quyết tâm đoạn tuyệt mối tình đầu, chôn thật sâu những ký ức ngọt ngào của thời con gái. Đôi lúc hình bóng Nguyên chập chờn hiện về, thì chị lại gạt nó ra khỏi đầu, chị đã từng có lỗi với một người, nên không muốn lại có lỗi thêm với người thứ hai nữa. Rồi con gái chị ra đời, ngày lại ngày con bé chiếm hết trái tim chị, chị không còn thời gian để nghĩ ngợi đến chuyện cũ nữa. Chị đã làm một người vợ trọn vẹn đúng nghĩa, trong suốt mười sáu năm chị chung sống cùng anh.

Gần mười năm trước chồng chị qua đời vì bệnh tim, con gái của chị lúc ấy mới mười lăm tuổi, đó là thời điểm chị thấy mình cô độc ghê gớm. Một lần dọn dẹp lại phòng làm việc của chồng, chị phát hiện hai vật thuộc sở hữu của chị, lại đang nằm sâu trong ngăn kéo của anh, đó là cuốn băng cassette và bức họa Tà Áo Xanh. Chị vô cùng kinh ngạc, ngày ra đi chị đã quyết tâm quên mối tình đầu nên để chúng ở lại. Vậy ra từ lâu anh đã biết chuyện của chị, có lẽ ngày anh về đón mẹ và hai em chị sang Pháp, anh đã nhìn thấy nên mang chúng đi theo. Khi chị hỏi mẹ, mẹ chị cũng rất ngạc nhiên về điều này. 

Gặp lại kỷ vật cũ, đánh thức trong chị, những ký ức tưởng chừng như đã lãng quên. Lúc đầu chị còn cảm thấy có lỗi với người đã khuất, sau đó nỗi nhớ Nguyên mỗi ngày càng thêm cồn cào da diết. Hơn lúc nào hết, chị cảm nhận sâu sắc những câu thơ của Phạm Thiên Thư: Ôi mối tình đầu – Như đi trên cát – Bước nhẹ mà sâu – Mà cũng nhòa mau – Tưởng đã phai màu – Đường chiều hoa cỏ… Nhưng rồi lý trí đã giữ chân chị lại xứ người thêm mười năm nữa, giờ đây con gái chị đã trưởng thành, con bé tốt nghiệp đại học và ổn định việc làm cũng đã vài năm, thế nên chị quyết định quay về… 

Ngày hôm sau chị lại đến quán Trúc Lan, giọng hát Mai Hương đang vào đoạn cuối bài Chiều Mơ, câu kết của bài hát nghe mà não lòng quá “…Dù ngày về chỉ có…chiều mơ…” Nghĩ đến ngày về của mình chị cảm thấy chạnh lòng vô hạn. Chị vẫy tay gọi cô bé hầu bàn đến và yêu cầu bài Tà Áo Xanh, chị tựa lưng vào ghế nhắm hờ đôi mắt và thả lỏng đầu óc. Khi chị mở mắt ra, một cô gái đang nhìn chị chăm chú, cô gái hỏi chị bằng giọng Bắc pha giọng Sài Gòn nghe ngồ ngộ – Cô thích nghe nhạc Đoàn Chuẩn có phải thế không ạ? Chị gật nhẹ đầu, cô gái hỏi tiếp – Hình như cô ở xa mới về? Chị lại gật đầu – Thế trước đây cô đã tới quán Trúc Lan lần nào chưa? Chị trả lời – Lâu lắm rồi, cũng đã ngoài hai mươi năm, ngày ấy nó mang tên là Nỗi Nhớ.

Mấy ngày tiếp theo sau đó, cứ thấy chị đến là cô gái lại mở bài hát Tà Áo Xanh, rồi đến ngồi bên cạnh nói chuyện cùng chị. Cô gái có đôi mắt ấm áp và quen thuộc khiến chị có cảm tình, nên chị cũng cởi mở hơn. Có hôm chị nghe bài Gởi Người Em Gái, được hát với giọng nam trầm rất lạ,(hình như đây là bài hát duy nhất Đoàn Chuẩn viết về mùa xuân) trong tiếng đàn guitar thùng nghe da diết vô cùng, chị mơ mơ hồ hồ tưởng chừng như giọng hát từ thuở xa xưa nào đó vọng về… Cô gái bảo đó là tiếng hát của ba cô, dành tặng cho một người quen cũ, chị cảm thấy những lời trách móc trong bài hát sao mà giống như là dành cho chị: “…Nhưng một sớm mùa thu khép giữa trời tím ngắt, nàng đi gót hài xanh, nàng đi trong dạ sao đành, đường xưa lối cũ ân tình nghĩa xưa…” Tự dưng tim chị bỗng thấy đau nhói. 

Dần dà chị đã kể cho cô gái nghe về gia đình chị, cô cũng kể chuyện của cô cho chị nghe. Cô chính là con gái của chủ quán, Trúc Lan là tên của cô, mẹ mất lúc cô mới hai tuổi, bố cô vẫn ở vậy nuôi cô khôn lớn. Mười tám năm trước, bố cô mua lại quán cà phê này, chỉ thay đổi mỗi cái tên thôi, chứ không sửa sang gì nhiều về vẻ bề ngoài của quán. Cô đã hai mươi hai tuổi, vừa tốt nghiệp xong ngành công nghệ sinh học, hiện đang tìm kiếm việc làm. Một hôm Trúc Lan hỏi chị – Ngày mốt là noel rồi cô có định đi đâu không? Chị trả lời – Cô định mai về Đà Lạt cùng người thân đón Noel, tiện thể xem festival hoa luôn. Trúc Lan bỗng nắm tay chị và nhìn chị với ánh mắt nài nỉ – Sau Noel cô hãy đi Đà Lạt nhé, tối hai mươi bốn cô đến đây, con có một món quà muốn dành tặng cho cô. Thấy giọng cô gái tha thiết quá đỗi cùng với ánh mắt đó, làm chị không thể nào từ chối nên đành nhận lời, lúc chị ra về Trúc Lan còn nhắc đi nhắc lại sợ chị quên.

Hơn mười giờ tối đêm giáng sinh, chiếc taxi chở chị bị kẹt giữa một rừng xe cộ, chị trả tiền rồi xuống đi bộ, len lỏi trong đoàn người. Chị thấy ở Châu Âu, trong những ngày lễ tết đường phố rất vắng vẻ, ai cũng muốn về sum họp với gia đình, còn ở Việt Nam thì dường như mọi người đổ hết ra đường. Từ xa chị đã nhìn thấy Trúc Lan, cô gái đang đứng trước cửa với dáng điệu bồn chồn. Nhìn thấy chị, Trúc Lan mừng rỡ – Con cứ sợ cô không đến. Chị đáp – Cô bị kẹt xe, mà sao quán vắng tanh thế này, tối nay con không bán sao? – Dạ không! tối nay quán nhà con chỉ có mỗi cô là khách đặc biệt thôi.

Trúc Lan đóng cửa quán rồi kéo tay chị vào trong, cô đưa chị lên lầu đến trước một căn phòng, cô đẩy cửa ra rồi nói với chị – Cô vào trong đi. Chị nghe theo và bước qua cánh cửa…đột nhiên chị khựng lại tròn mắt kinh ngạc, chị nhìn thấy những bức tranh Nguyên vẽ chị ngày xưa, màu áo xanh tràn ngập cả gian phòng. Tim chị thắt lại giây lát rồi đập thật nhanh, chị lảo đảo vịn tay vào một chiếc ghế rồi ngồi xuống thở dốc. Một bàn tay đặt nhẹ lên vai chị, chị ngước lên và bắt gặp ánh mắt quen thuộc ngày nào, Nguyên đó Nguyên đang cúi xuống nhìn chị, nước mắt chị giọt nọ nối giọt kia cứ thế lăn dài xuống má. Nguyên siết nhẹ tay chị và nói nhỏ – Mừng Thanh Trúc đã quay về. Xa xa… chị nghe tiếng chuông nhà thờ đang đổ từng hồi rộn rã, có lẽ đã bắt đầu thánh lễ nửa đêm… 

Phan Mạnh Thu K9 – 12/2010   (Ảnh trên in ternet)                                       

Áo Xanh (Hương Xưa)

5 comments on “Tà Áo Xanh

  1. Vô tình lạc vào blog này đọc được câu chuyện thật hay, thật xúc động “Xa xa, chị nghe tiếng chuông nhà thờ đang đổ từng hồi rộn rã, có lẽ đã bắt đầu bước vào thánh lễ nửa đêm…”
    Một kết thúc có hậu. Nhân vật trong chuyện kể thực may mắn vì hai người đàn ông đều bản lĩnh

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s